Tham vọng thống trị AI của Trung Quốc đặt ra rủi ro lớn cho quốc gia có lực lượng lao động đông đảo nhất thế giới.
Lý Đại Chí đi đi lại lại trên một trường quay được dàn dựng giống văn phòng của một giám đốc điều hành, vừa bước vừa tập lời thoại tại Trịnh Châu, một thành phố miền trung Trung Quốc đã trở thành trung tâm sản xuất phim ngắn trực tuyến. Các bộ phim dài mỗi tập chỉ một phút này đã chiếm lĩnh màn hình điện thoại trên khắp đất nước; cứ hai người thì có một người xem. Năm 2025, ngành phim ngắn trực tuyến đạt quy mô 100 tỷ nhân dân tệ (15 tỷ USD), tạo ra khoảng 700.000 việc làm trực tiếp và có thể thêm 1,3 triệu việc làm gián tiếp, trở thành một trong số ít điểm sáng của nền kinh tế Trung Quốc đang mất đà tăng trưởng.
Ngành công nghiệp bùng nổ này đã mang đến cho ông Lý, một cựu cảnh sát giao thông 32 tuổi, cơ hội thử sức với một công việc mới. Ông từng bận rộn nghiên cứu từ 8 đến 15 kịch bản kỳ ảo mỗi tháng. Nhưng rồi vào tháng Hai, ByteDance đã tung ra Seedance 2.0, một mô hình trí tuệ nhân tạo có khả năng tạo ra những video chân thực đến kinh ngạc. Công nghệ này nhanh chóng làm đảo lộn toàn bộ ngành công nghiệp. Thời gian sản xuất một bộ phim nay chỉ còn tính bằng ngày thay vì nhiều tuần, trong khi chi phí giảm tới 90% (hóa đơn giờ đây chủ yếu thanh toán mua token thay vì trả cho con người). Thu nhập hằng ngày của ông Lý giảm một nửa và các hợp đồng dần biến mất. Nhiều đồng nghiệp của ông chuyển sang bán bảo hiểm, mở quầy hàng rong, giao đồ ăn hoặc chạy xe chở khách. “Công nghệ tiên tiến có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của con người,” ông nói. “Nhưng với ngành của chúng tôi, lúc này nó đang gây hại nhiều hơn lợi.”
Trung Quốc đã dốc toàn lực cho AI với niềm tin rằng, trong cuộc cạnh tranh với Mỹ và phần còn lại của thế giới, việc thống trị công nghệ này gần như là một nhu cầu mang tính sống còn. Chính phủ cũng nhìn thấy nhu cầu dài hạn rõ ràng đối với AI nhằm giảm bớt tình trạng thiếu hụt lao động trong một xã hội già hóa nhanh chóng. Để chuẩn bị cho tương lai đó, Trung Quốc đang tích cực thúc đẩy việc tích hợp AI, đặc biệt dưới hình thức “AI hiện thân” (embodied AI) đưa các mô hình AI vào thế giới vật lý thông qua robot và ô tô. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang hình dung về một thời đại của “sự cộng tác giữa con người và máy móc”.
Tuy nhiên, giới lãnh đạo không tránh khỏi lo ngại về việc AI sẽ thay thế người lao động như thế nào. Những tiến bộ của AI đe dọa cả lao động văn phòng lẫn lao động chân tay, vốn là nơi trú ẩn của hàng triệu người bị sa thải hoặc giảm thu nhập trong những năm gần đây trong một hệ thống thiếu mạng lưới an sinh đủ mạnh. Và như sự thay đổi chóng mặt đối với ngành phim ngắn đã cho thấy, AI có khả năng xóa sổ việc làm chỉ bằng một cú nhấp chuột. “Quá trình chuyển đổi này vừa tạo việc làm vừa hủy việc làm, nhưng hai tác động đó không đối xứng; sự thay thế lao động thường đến trước và vượt xa việc tạo ra việc làm mới”, nhà kinh tế học Thái Phương viết trong một cuốn sách mới về tác động của AI đối với thị trường lao động. Nhiệm vụ của chính phủ càng khó khăn hơn trong bối cảnh kinh tế vĩ mô ảm đạm, có nguy cơ nới rộng khoảng cách giữa những người sở hữu robot và những người không sở hữu gì ngoài sức lao động.
Một số lao động Trung Quốc đã bắt đầu làm việc cùng chính công nghệ sẽ thay thế họ. Hãy nhìn vào trường hợp của Giả Tồn Kỳ. Trong nhiều thập kỷ, ông ôm vô lăng lái than đá và hàng hóa nặng khắp Trung Quốc, lưng đau nhức và đôi mắt mỏi mệt sau những chặng đường dài. Giờ đây, ở tuổi 44, ông chỉ cần can thiệp khi xe nhập làn trên cao tốc hoặc di chuyển những đoạn ngắn trong thành phố. Lý do là chiếc xe tải của ông được trang bị công nghệ hỗ trợ lái tiên tiến có thể gần như tự điều khiển. Tuy vậy, quy định của Trung Quốc vẫn yêu cầu phải có người ngồi sau vô lăng với tay đặt trên bánh lái.
Vào một sáng thứ Hai gần đây, ông đón phóng viên của The Economist tại một trạm nghỉ ở Tô Châu trước khi thực hiện chặng cuối đến Thượng Hải. Phần lớn sự nghiệp của mình, ông luôn ngồi cạnh một tài xế khác để thay phiên lái xe. Giờ đây, ông nghe truyện kiếm hiệp và gọi video cho đứa con chín tuổi, cậu bé vô cùng thích thú với chiếc xe tải tự lái. Công việc của ông thoải mái hơn, dù cô đơn hơn. Nếu chiếc xe tải có thể xử lý hoàn hảo việc nhập làn trên cao tốc, theo ông, thì coi như mọi thứ đã hoàn chỉnh. Nhưng con người vẫn sẽ cần thiết, ông lập luận, liệt kê hàng loạt sự cố phổ biến như nổ lốp, rò rỉ đường khí, chết máy đột ngột hay phải xử lý các vụ tai nạn giao thông. Đến khi xe tải hoàn toàn không cần người lái, ông cho rằng mình có lẽ đã nghỉ hưu.

Ông Giả là một trong 38 triệu tài xế xe tải vận chuyển hơn 70% lượng hàng hóa của cả nước. Lực lượng này đang già đi, trong khi rất ít người trẻ muốn thay thế họ. Julian Ma, nhà sáng lập Inceptio Technology, cho rằng công nghệ hỗ trợ lái xe của công ty mình, hiện được trang bị trên phần lớn xe tải tự hành của Trung Quốc, là lời giải cho nguy cơ thiếu hụt lao động trong ngành logistics, đồng thời giúp giảm tai nạn và tiết kiệm nhiên liệu. Một số bang của Mỹ đã cho phép xe tải tự hành vận hành mà không cần người lái, nhưng quãng đường vận hành thực tế vẫn ít hơn nhiều. Chính tại Trung Quốc, công nghệ này mới thực sự được thử thách ngoài đời thực. Inceptio đã lắp đặt 7.000 hệ thống và dự kiến vượt mốc 10.000 vào cuối năm nay.
Một doanh nghiệp logistics lớn cho biết 1.000 trong số 8.000 xe tải của họ đã được trang bị công nghệ của Inceptio và mọi đơn hàng mua xe tải trong tương lai cũng sẽ được tích hợp hệ thống này. Theo một giám đốc điều hành trao đổi với The Economist, công nghệ đó cho phép giảm 30% số lượng tài xế và tiết kiệm từ 3% đến 4% chi phí vận tải. Điều này còn chưa tính đến khả năng trong tương lai cơ quan quản lý cho phép xe tải hoạt động hoàn toàn không có người lái.
Tháng 7 vừa qua, JD.com, một trong những tập đoàn thương mại điện tử lớn nhất Trung Quốc, đã khai trương tuyến giao hàng bằng xe tải hoàn toàn tự hành dài 31 km ở vùng ven Bắc Kinh. Chương trình thí điểm cho phép xe tải tự lái mà không cần tài xế đặt tay trên vô lăng, miễn là vẫn có một người giám sát an toàn ngồi trên xe. Đây là bước đi mới nhất của Lưu Cường Đông, Chủ tịch JD, trong nỗ lực tự động hóa đế chế giao vận khổng lồ của mình. Tháng 10 năm ngoái, ông cam kết mua 3 triệu robot, 1 triệu phương tiện không người lái và 100.000 máy bay không người lái trong vòng 5 năm tới. “Sớm hay muộn sẽ không còn cần đến nhân viên giao hàng nữa,” ông nói tại một sự kiện hồi tháng 6. “Nhưng chúng tôi không muốn thấy 700.000 anh em của mình bị bỏ đói.”
Các lãnh đạo doanh nghiệp Mỹ thường xuyên dự báo về một “ngày tận thế việc làm” do AI gây ra. Các doanh nhân Trung Quốc thì thường tránh chủ đề này vì lo ngại làm phật lòng chính quyền. Ông Lưu đặc biệt nhấn mạnh rằng ông muốn giữ công ăn việc làm cho những “người anh em” của mình bằng cách đào tạo họ trở thành kỹ thuật viên bảo trì robot. JD hiện hợp tác với 124 trường học. “Chúng tôi sẽ biến lao động chân tay thành lao động văn phòng, để họ ngồi trong văn phòng thay vì phải dãi nắng dầm mưa.” Tuy nhiên, ngay cả gã khổng lồ bán lẻ này cũng sẽ không cần quá nhiều kỹ thuật viên đến thế.
Rất dễ hình dung những việc làm mà AI có thể phá hủy. Điều khó hơn là hình dung những việc làm mới mà nó tạo ra. Thân Kiến Quang, kinh tế trưởng của JD, chỉ ra ngành thương mại điện tử trị giá 2.000 tỷ USD của Trung Quốc như một ví dụ cho thấy những tiến bộ công nghệ có thể khai sinh các lĩnh vực mới cùng những nghề nghiệp trước đây không ai tưởng tượng nổi.
Theo ông Thân, lực lượng lao động của JD đã tăng gấp 5 lần, từ 180.000 người khi ông gia nhập công ty cách đây 8 năm lên 930.000 người hiện nay. Sự tăng trưởng đó diễn ra song song với quá trình tự động hóa ngày càng sâu rộng tại hơn 3.600 nhà kho và việc AI được tích hợp vào hoạt động kinh doanh, từ các MC ảo livestream bán hàng cho đến robot giao hàng chặng cuối. Khi JD lấn sân sang các lĩnh vực dịch vụ như sửa chữa ô tô hay vệ sinh nhà cửa, nhân viên giao hàng có thể được đào tạo để làm các công việc như chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ y tế. Theo ông, triển vọng này phù hợp với mục tiêu của chính phủ là nâng cao kỹ năng lao động và mở rộng ngành dịch vụ nhằm thúc đẩy việc làm cũng như nhu cầu trong nước.
Xây dựng đội quân robot
Với lực lượng lao động đang già hóa và thu hẹp nhanh chóng, Trung Quốc đặt cược vào AI và robot để duy trì sức mạnh công nghiệp. Tuy nhiên, việc lựa chọn thời điểm triển khai phù hợp sẽ không dễ dàng. Robot rõ ràng là giải pháp dài hạn. Liên Hợp Quốc dự báo đến năm 2050 dân số trong độ tuổi lao động của Trung Quốc sẽ giảm 25%, còn đến năm 2100 dân số cả nước sẽ giảm hơn một nửa so với mức hiện nay là 1,4 tỷ người. Nhưng trong ngắn hạn, việc đưa robot vào sản xuất hàng loạt có thể gây ra rất nhiều đau đớn cho thị trường lao động.
Tại Thâm Quyến, thành phố lớn ở miền nam Trung Quốc, người ta có thể cảm nhận rõ đồng thời cả niềm lạc quan công nghệ lẫn tâm thế chấp nhận thực tế. Các nhà sản xuất và cung ứng robot hình người ở đây nuôi tham vọng biến nơi này thành một “Thung lũng Robot”. Kỹ thuật viên thử nghiệm máy cắt cỏ robot. Những công nhân vệ sinh phải xử lý các khu vực mà robot quét sàn tự động bỏ sót. Một công nhân họ Lôi, đang ngồi trên chiếc xe quét đường, cho rằng đồng nghiệp robot của ông hiện vẫn có thể bị đánh bại bởi lá cây và đá sỏi, nhưng sớm muộn gì chúng cũng sẽ thay thế con người. Chỉ cần nhìn vào những chiếc robotaxi đã hoạt động tại Thâm Quyến và nhiều thành phố khác là đủ thấy điều đó. Tuy nhiên, giống nhiều lao động phổ thông khác, ông không quá lo sợ. “Với công nghệ, không thể mong mọi thứ giữ nguyên mãi mãi,” Lin Yinghuo, một nhân viên giao hàng 45 tuổi, nhận xét. “Bị thay thế là điều bình thường.”
Liệu robot đã sẵn sàng thay thế con người hay chưa? Trong năm 2024, Trung Quốc lắp đặt gần 300.000 robot công nghiệp, chiếm hơn một nửa tổng số robot công nghiệp được triển khai trên toàn thế giới trong năm đó, nâng tổng số robot công nghiệp đang hoạt động lên 2 triệu đơn vị, gấp đôi năm 2021. Robot truyền thống đã thay thế nhiều công nhân nhà máy nhưng vẫn gặp khó với các nhiệm vụ phức tạp hơn. Robot hình người có thể học cách cảm nhận kết cấu, kích thước và áp lực khác nhau, từ đó xác định lực phù hợp để cầm nắm vật thể mà không làm vỡ hoặc làm rơi chúng.
Bất chấp làn sóng kỳ vọng, rất ít robot hình người hiện thực sự làm việc trên các dây chuyền sản xuất. Giới lãnh đạo muốn nhanh chóng đạt được quy mô lớn. Tháng 6 vừa qua, chính quyền trung ương yêu cầu các địa phương và doanh nghiệp nhà nước xây dựng kế hoạch triển khai 10.000 robot hình người vào công việc thực tế trước cuối năm. Morgan Stanley dự đoán doanh số robot hình người của Trung Quốc sẽ đạt 50.000 đơn vị, tương đương 2 tỷ USD trong năm nay, trước khi tăng lên 446.000 đơn vị và 15 tỷ USD vào năm 2030.
Robot hình người ngày càng được xem như những nhân viên triển vọng. Jiao Jichao của UBTech dự báo thị trường sẽ có bước đột phá ngay trong năm tới, khi khách hàng công nghiệp chuyển từ những đơn đặt hàng nhỏ sang quy mô hàng trăm robot mỗi lần. Ông cho rằng nếu giá robot giảm xuống dưới 300.000 nhân dân tệ (44.000 USD), các doanh nghiệp hoàn toàn có thể thu hồi vốn trong vòng hai năm. Khi sản lượng tăng lên, robot sẽ trở nên tiết kiệm chi phí hơn đáng kể so với lao động con người. Jeremy Lee của PaXini cho biết nhiều ông chủ đánh giá robot hình người hiệu quả hơn và ít có khả năng lơ là công việc hơn nhân viên con người.
Dù vậy, con người vẫn cần thiết để đào tạo robot. Khi đặt mua một robot lau dọn tại Trung Quốc, khách hàng thường nhận được hai con người đi kèm: một huấn luyện viên robot và một nhân viên vệ sinh lành nghề. Tại nhà máy của PaXini ở Thiên Tân, 500 người đeo cảm biến đang thực hiện các nhiệm vụ trong nhà máy ô tô, bệnh viện và siêu thị nhằm tạo dữ liệu huấn luyện cho robot hình người. Theo ông Lee, do dữ liệu thực tế vẫn còn khan hiếm, những người huấn luyện robot sẽ còn cần thiết trong ít nhất một hoặc hai thập kỷ tới.
Ngay cả khi các doanh nghiệp khẳng định robot hình người sẽ giải phóng con người khỏi những công việc nguy hiểm và lặp đi lặp lại, thì những công việc mới mà chúng tạo ra cho con người lại không mấy hấp dẫn. Đào Hân Nguyệt, một cử nhân 25 tuổi ở Thâm Quyến, đã tìm việc từ tháng 11 năm ngoái. Từng là nhân viên pha chế, cô ứng tuyển vào một vị trí chuyên đổ đầy nguyên liệu cho những quầy cà phê do robot vận hành. Trong một buổi phỏng vấn cho công việc huấn luyện robot, cô phải gấp quần áo liên tục trong 30 phút và thấy công việc đó nhàm chán đến mức không thể tưởng tượng nổi việc làm như vậy ngày này qua ngày khác. Cô hiện phải dựa vào sự hỗ trợ của cha mẹ, những người trồng khổ qua, để trả tiền thuê nhà trong lúc tiếp tục tìm việc. Mỗi khi dừng đèn đỏ, cô quan sát những chiếc robotaxi rẽ góc đường, mong chúng mắc sai lầm để chứng minh rằng chúng không thể thay thế người lái xe. Nhưng chúng vận hành rất tốt.
Cũng như ở nhiều quốc gia khác, giới lao động trẻ được dự báo sẽ là một trong những nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ AI. Tại Trung Quốc, triển vọng của họ đặc biệt ảm đạm. Sau 5 năm chìm trong cuộc khủng hoảng bất động sản, nền kinh tế vẫn đang vật lộn với tình trạng tăng lương thấp và tỷ lệ thất nghiệp thanh niên dai dẳng ở mức cao. Trong quý II năm nay, Trung Quốc không đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Đến tháng 7, lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, nước này không đặt ra chỉ tiêu tạo việc làm ở đô thị trong kế hoạch 5 năm của mình. “Có áp lực đáng kể đối với việc làm, tăng trưởng thu nhập hộ gia đình và những thiếu sót trong hệ thống bảo đảm sinh kế,” Bộ trưởng Nhân lực và An sinh xã hội Trung Quốc phát biểu, đồng thời nêu AI là một trong những thách thức.
Trong nhiều năm, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã hoạch định một nền kinh tế hướng đến tiến bộ công nghệ và ứng dụng công nghệ. Khi các doanh nghiệp trong nước tiến gần hơn tới biên giới công nghệ toàn cầu, chính quyền cũng ngày càng lo ngại về nguy cơ AI làm xáo trộn ổn định xã hội. Một trong những thách thức lớn nhất là xác định mức độ can thiệp phù hợp. Theo một cố vấn chính sách tại Bắc Kinh, chính phủ hiện “rất thận trọng” vì muốn trấn an người lao động đang lo lắng nhưng đồng thời không muốn bóp nghẹt đổi mới sáng tạo.
Chính phủ có thể dựa vào khu vực công đồ sộ, nơi sự ổn định việc làm gần như là bất khả xâm phạm, để làm đối trọng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp tư nhân cũng đang chịu áp lực phải bảo vệ người lao động. “Các công ty Mỹ thường được thị trường chứng khoán thưởng cho việc sa thải hàng loạt nhân viên và tuyên bố rằng đó là nhờ AI. Nhưng các công ty Trung Quốc lại có động cơ hoàn toàn ngược lại,” Matt Sheehan thuộc Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế nhận định. Dan Wang của Eurasia Group cho biết gần đây ông đã gặp các quan chức địa phương đang gây sức ép buộc doanh nghiệp phải tạo thêm việc làm nhằm bù đắp số lao động bị mất việc do tự động hóa. People’s Daily, cơ quan ngôn luận của công đoàn nhà nước Trung Quốc, cũng đã chỉ trích các hoạt động như nhân bản kỹ thuật số nhân viên.
Các thẩm phán Trung Quốc, hoạt động dưới sự lãnh đạo của đảng, cho đến nay phần lớn đứng về phía người lao động trong các vụ sa thải liên quan đến AI. Tại Hàng Châu, một trung tâm lớn của ngành AI, một thẩm phán đã tuyên bố việc một công ty công nghệ tài chính sa thải một kỹ sư họ Chu với lý do AI có thể đảm nhiệm công việc của anh là trái pháp luật. Người lao động 35 tuổi này bị sa thải sau khi từ chối chấp nhận việc giáng chức và cắt giảm lương. Trường hợp của anh cùng nhiều vụ việc tương tự trên khắp Trung Quốc đã được chính quyền sử dụng như những lời cảnh báo rằng doanh nghiệp không được lấy AI làm cái cớ cho việc cắt giảm nhân sự. Trước khi sa thải lao động vì không đáp ứng yêu cầu công việc, doanh nghiệp phải tìm cách đào tạo lại hoặc bố trí họ sang vị trí khác.
Chính phủ cũng muốn đào tạo và giáo dục người dân để hiện thực hóa tham vọng AI của mình. Trong khi nhiều người trẻ vẫn chật vật tìm việc, đất nước này dự kiến sẽ cần thêm hàng triệu lao động trong lĩnh vực sản xuất công nghệ cao và nghiên cứu AI, dù hiện nay Trung Quốc đã có số lượng nhà nghiên cứu AI nhiều hơn tổng số của Mỹ, Anh và Liên minh châu Âu cộng lại. Trường tiểu học và trung học đang đưa AI vào chương trình giảng dạy. Các trường đại học mở hàng nghìn chương trình đào tạo mới trong các lĩnh vực như “trí tuệ hiện thân” hay “robot nông nghiệp”, đồng thời cắt giảm hàng nghìn ngành học bị xem là “lỗi thời”, chủ yếu thuộc khối khoa học xã hội và nhân văn. Nhà nước cũng trợ cấp cho các chương trình đào tạo lại và thúc đẩy giáo dục nghề nghiệp trong những lĩnh vực như “nền kinh tế tầm thấp”, bao gồm cả taxi bay.
Nhiều người bị bỏ lại phía sau sẽ chỉ có thể dựa vào một tấm lưới an sinh xã hội khá mong manh, với mức trợ cấp ít ỏi và bảo hiểm y tế tối thiểu. Trịnh Công Thành, Chủ tịch Hiệp hội An sinh Xã hội Trung Quốc, đã cảnh báo cơ quan lập pháp vào năm ngoái rằng càng nhiều lao động bị AI và robot thay thế thì càng ít người đóng góp vào hệ thống phúc lợi để hỗ trợ những người thất nghiệp. Ông đề xuất đánh thuế đối với phần năng suất gia tăng nhờ robot. Luo Zhiheng của Yuekai Securities, người từng tư vấn cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc, cũng đề xuất đánh thuế vào “lợi nhuận vượt mức” của các công ty AI.

Cần trợ giúp
Một số nhà kinh tế học và cựu quan chức kêu gọi triển khai các khoản trợ cấp mới như bảo hiểm thất nghiệp do AI gây ra hoặc trợ cấp tiền mặt trực tiếp. “Một cuộc cách mạng công nghệ hay chuyển đổi công nghiệp càng mang tính phá vỡ, cường độ của quá trình sáng tạo hủy diệt càng lớn, và cơ chế thị trường càng khó bảo vệ quyền lợi của người lao động,” ông Thái Phương, người từng giữ chức vụ tương đương thứ trưởng, viết trong một bài xã luận đăng trang nhất trên tờ báo của Trường Đảng Trung ương hồi tháng 6.
Theo Trung tâm Nghiên cứu Loại hình Việc làm Mới của Trung Quốc, số lượng “lao động linh hoạt” gồm tài xế giao đồ ăn, tài xế công nghệ, livestream bán hàng, lao động thời vụ trong nhà máy và nhiều nhóm tương tự khác sẽ đạt 320 triệu người trong năm nay, tăng từ 280 triệu vào năm 2025 và gấp đôi quy mô năm 2019. Chính quyền và doanh nghiệp đã thực hiện một số bước đi khiêm tốn nhằm đưa nhiều lao động trong nhóm này vào hệ thống an sinh xã hội, để tình trạng bấp bênh của họ không biến thành bất ổn xã hội. AI có thể làm gia tăng áp lực phải tiến xa hơn nữa.
Tuy nhiên, khó có khả năng một chương trình hỗ trợ quy mô lớn nào được triển khai trong tương lai gần. Chính phủ luôn thận trọng trong chi tiêu trợ cấp, còn Chủ tịch Tập Cận Bình từ lâu đã thể hiện thái độ không mấy thiện cảm với cái mà ông gọi là “chủ nghĩa phúc lợi”. Khi ngày càng nhiều robotaxi xuất hiện trên đường phố, các tài xế xe công nghệ sẽ phải vật lộn để kiếm sống. Ông Lý, người diễn viên phim ngắn, cũng sẽ như vậy, trong khi những ông chủ của ông tiếp tục kiếm lợi nhiều hơn.
Trong một tòa nhà văn phòng ở Trịnh Châu, Trương Lôi điều hành một studio mang tên Mengchang Media. Một khẩu hiệu trên tường viết: “Phim ngắn AI, sức sáng tạo vượt ngoài trí tưởng tượng.” Trước đây, công ty của ông có tới 10 nhóm sản xuất phim mỗi ngày. Giờ đây, thay vào đó là những dãy dài nhân viên được gọi là choukashi (nghĩa đen là “người bốc thẻ”, một thuật ngữ của thời đại AI gợi liên tưởng tới việc rút ngẫu nhiên một lá bài và hy vọng gặp may). Công việc của họ là viết các câu lệnh mô tả, chẳng hạn yêu cầu một cảnh cận mặt của nhân vật với đôi lông mày nhíu lại và “biểu cảm tràn đầy lòng biết ơn cùng niềm kỳ vọng”. Phần mềm sau đó tạo ra các đoạn phim ngắn chỉ vài giây, và những choukashi tiếp tục chỉnh sửa, sắp xếp chúng thành câu chuyện hoàn chỉnh. Không còn bóng dáng người quay phim, nhân viên ánh sáng hay diễn viên nào trong khung cảnh ấy nữa. ■











