Khi cuộc chiến ở Ukraine kết thúc, Moscow sẽ cần trở thành một phần của cấu trúc an ninh mới. Bài viết đặc biệt của Andrey Melnichenko, một tài phiệt, nhà công nghiệp lớn nước Nga gửi cho The Economist.
Những cuộc chiến tranh lớn không bắt đầu ở nơi phát súng đầu tiên vang lên. Tiền tuyến chỉ là điểm mà áp lực tích tụ cuối cùng bùng phát lên bề mặt. Thời điểm đó, các giá trị nền tảng đã bị phá hủy: ngôn ngữ của an ninh chung, niềm tin vào các cam kết, sự hiểu biết chung về những gì được phép, khả năng nhìn nhận phía bên kia như một phần của cùng một hệ thống thay vì một mối đe dọa cần bị loại bỏ. Khi những mối liên kết ấy đứt gãy, chính trị không còn dẫn dắt các sự kiện nữa; trái lại, nó bị các sự kiện dẫn dắt.
Chiến tranh Ukraine là một trường hợp như vậy. Nó gồm nhiều tầng: bi kịch của các dân tộc đã sống hàng thế kỷ trong cùng một không gian lịch sử; xung đột giữa Nga và phương Tây – một tranh chấp về lãnh thổ, liên minh, ký ức lịch sử và tương lai của trật tự thế giới.

Nhưng bên dưới tất cả những điều đó là một thất bại sâu sắc hơn: thế giới hiện đại đã đánh mất cơ chế từng cho phép các cường quốc cùng tồn tại trong một hệ thống an ninh duy nhất mà không phủ nhận địa vị của nhau. Khi cơ chế ấy sụp đổ, những công thức đạo đức bắt đầu thay thế cho cấu trúc thể chế, và sự trừng phạt bị nhầm lẫn với hành động chiến lược.
Tôi không phải là chính trị gia cũng không phải nhà tư tưởng. Chính trị gia hành động bằng ý chí; nhà tư tưởng hành động bằng niềm tin. Thế giới của tôi là những hệ thống vật chất phức tạp: dòng lưu chuyển của tài nguyên thiên nhiên, quá trình chuyển đổi chúng thành phân bón và điện năng, hệ thống logistics để tổ chức các dòng chảy đó, và hàng loạt những mục tiêu ở phía chân trời. Những hệ thống như vậy thờ ơ với các tuyên bố. Chúng vận hành hiệu quả khi các kết nối then chốt được duy trì trơn tru và thất bại khi các cấu trúc chủ lực bị tổn hại hoặc tắc nghẽn. Một dòng chảy giống như một con sông: không thể tuyên bố hủy bỏ nó. Nó có thể bị đổi hướng, nhưng không biến mất. Tôi cố gắng mô tả thế giới như một nhà vật lý, theo đúng bản chất của nó, chứ không phải như người ta mong muốn nó như thế nào.
Trải nghiệm định hình tôi là thảm họa Chernobyl năm 1986, xảy ra không xa thành phố nơi tôi sinh ra. Nó chứng minh rằng một hệ thống phức tạp chứa năng lượng khổng lồ không tha thứ cho sự tính toán sai lầm hay ngạo mạn. Một chuỗi những sự kiện nhỏ có thể tích tụ thành thảm họa trước khi bất kỳ ai nhận ra điều gì đang xảy ra. Trải nghiệm đó không cho phép tôi xem yếu tố hạt nhân như một khái niệm trừu tượng; đó là giới hạn tối đa mà nếu nó bị vượt qua thì tất cả sẽ trở thành thảm hoạ. Nơi mà hậu quả là không thể đảo ngược về mặt vật lý, cách tiếp cận như vậy là hình thức trách nhiệm duy nhất có thể chấp nhận được.
Khi chủ quyền trở thành vấn đề
Nghịch lý trung tâm của thời điểm hiện tại là: yêu cầu đối với an ninh quốc tế chưa bao giờ cao hơn lúc này, nhưng cơ sở hạ tầng thể chế được xây dựng để kiến tạo nên điều đó – các chuẩn mực, các cơ quan thực thi, những khuôn khổ pháp lý chung – lại chưa bao giờ yếu hơn thế. Trong môi trường như vậy, cám dỗ chính là coi chủ quyền của đối thủ như nguồn gốc của bất ổn. Bài viết này sẽ phản biện ngược lại: phá hủy chủ quyền không giải quyết được vấn đề an ninh; nó còn loại bỏ cơ chế duy nhất thông qua đó vấn đề có thể được giải quyết.
Ukraine không chỉ là chiến trường giữa Nga và phương Tây. Đó là một nhà nước, một xã hội và một ý chí chính trị đã phải trả giá khủng khiếp. Chủ quyền của Ukraine là có thật. Nhưng một nền an ninh của Ukraine được xây dựng trên sự phủ nhận vĩnh viễn tính chủ thể có chủ quyền của Nga cũng bất ổn không kém.
Một nước láng giềng với sự thấu hiểu lợi ích lẫn nhau và có thể dự báo các cam kết tạo ra một chất lượng an ninh khác hẳn so với một nước láng giềng được định hình bởi chủ nghĩa phục thù hoặc tâm thế bị bao vây. Hòa bình bền vững đòi hỏi chủ quyền ở cả hai phía, không bởi vì họ phải yêu nhau, mà bởi vì chỉ những chủ thể thực sự mới có thể ký kết các thỏa thuận có giá trị lâu dài.
Nga hiện tại là quốc gia có chủ quyền, họ đã và vẫn đang đưa ra các quyết định của mình một cách độc lập. Đây không phải là sự đánh giá, mà là mô tả thực trạng. Nga đã xác định những lợi ích sống còn của mình, có nền tảng vật chất để bảo vệ chúng và tự gánh chịu hậu quả từ các quyết định của chính mình.
Diễn ngôn hiện nay của phương Tây về nước Nga hậu chiến, dù được đóng gói dưới nhiều hình thức chính trị khác nhau, đều hướng tới một điều: phá hủy chủ quyền đó hoặc hạn chế nó một cách triệt để. Logic này có thể hiểu được. Nếu chủ quyền của Nga bị xem là mối đe dọa, thì việc loại bỏ nó dường như là cách giải quyết vấn đề.
Logic ấy được củng cố bằng những ví dụ lịch sử gần đây. Việc đưa nước Đức và Nhật Bản hậu chiến hội nhập vào thế giới phương Tây đã góp phần, trong một giai đoạn đáng kể, loại bỏ xu hướng phục thù của các cường quốc bại trận. Dĩ nhiên, phép so sánh này không hoàn toàn tương đồng – Nga không phải là một quốc gia bại trận với chính quyền đã sụp đổ. Tuy vậy, kỳ vọng cơ bản vẫn giống nhau: một đất nước bị tước bỏ quyền tự chủ chiến lược rồi cuối cùng sẽ chấp nhận các luật chơi do những người đã tước bỏ quyền đó đặt ra.
Cách tiếp cận này mắc phải một sai lầm căn bản. Chủ quyền là điều kiện cần cho bất kỳ cấu trúc an ninh toàn cầu ổn định nào. Điều đó không có nghĩa chủ quyền tự thân bảo đảm sự ổn định; hành động của một quốc gia có chủ quyền vẫn có thể ảnh hưởng đến an ninh của các nước khác. Nhưng nếu thiếu chủ quyền, sẽ không thể xây dựng được một kiến trúc an ninh bền vững. Không thể kiến tạo một nền hòa bình lâu dài với một thực thể chỉ biết phục tùng, bởi thực thể ấy không thực sự chịu trách nhiệm đối với các quyết định của mình. Những thỏa thuận được xây dựng trong hoàn cảnh đó sẽ không dẫn đến hòa bình vĩnh viễn, mà chỉ tạo ra một khoảng lặng tạm thời giữa các chu kỳ xung đột.
Hiện nay có bốn kịch bản về nước Nga hậu chiến đang được phương Tây bàn luận. Dù khác nhau về hình thức thể hiện chính trị, tất cả đều kéo theo sự mất mát hoặc thu hẹp chủ quyền, qua đó phá hủy cơ chế duy nhất cho phép hành vi có trách nhiệm tồn tại.
Kịch bản thứ nhất là nước Nga bị hạ nhục, tồn tại bên rìa thế giới phương Tây. Về lâu dài, điều này sẽ tạo ra một chủ nghĩa phục thù hiếu chiến. Versailles không tạo ra trật tự mà chỉ tích tụ năng lượng bị dồn nén cho tương lai. Nga không phải nước Đức thời Weimar, và thế giới hiện đại không lặp lại nguyên xi thập niên 1920, nhưng logic cấu trúc ấy vẫn còn nguyên sức mạnh: nếu chủ quyền của một dân tộc lớn có bề dày lịch sử bị phá vỡ, nó hiếm khi biến mất. Nó sẽ quay trở lại dưới một hình thức nguy hiểm hơn.
Kịch bản thứ hai, Nga rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc. Thoạt nhìn, con đường Trung Quốc chỉ như một sự thay thế đơn giản cho con đường phương Tây: Nga hội nhập vào các chuỗi cung ứng của Trung Quốc và tiếp cận thị trường, công nghệ và nguồn vốn, trong khi đổi lại cung cấp nguyên liệu thô, vị trí địa lý và chiều sâu chiến lược. Trong ngắn hạn, điều này giống như một sự thỏa hiệp hợp lý. Trong dài hạn, nó đơn giản chỉ thay đổi địa chỉ của sự lệ thuộc.
Nga sẽ dường như vẫn giữ được vẻ bề ngoài của một cường quốc, nhưng trên thực tế sẽ trở thành vành đai ngoài của chiến lược Trung Quốc: một thị trường cho hàng hóa Trung Quốc, một nguồn cung tài nguyên, một hành lang trung chuyển và một vùng đệm hấp thụ áp lực hướng vào Bắc Kinh. Nga có nguy cơ rơi vào vị thế mang tính cấu trúc tương tự như vị thế mà Ukraine đang nắm giữ đối với phương Tây: một không gian tranh chấp nơi các cường quốc lớn thực hiện những nước đi của mình. Đây không phải là sự đồng nhất giữa hai quốc gia; đó là logic của việc sử dụng một không gian biên viễn vì lợi ích của một trung tâm quyền lực khác.
Nhưng một nước Nga phụ thuộc cũng sẽ chỉ mang lại giá trị hạn chế đối với Trung Quốc. Sự bất đối xứng quá rõ ràng trong mối quan hệ này sẽ mang tính đầu độc: rất dễ hình thành một liên minh chống Trung Quốc; các nước láng giềng của Bắc Kinh sẽ ngày càng bất an; và ngay trong lòng nước Nga cuối cùng cũng sẽ nảy sinh nhu cầu thoát khỏi vị thế lệ thuộc. Thực tế ứng xử của Trung Quốc đã cho thấy Bắc Kinh hiểu rõ điều này. Trung Quốc sẵn sàng tận dụng lợi thế của mình, nhưng không tìm cách đẩy mối quan hệ tới mức độ chư hầu chính thức. Hơn nữa, trải nghiệm đau đớn gần đây về sự phụ thuộc công nghệ vào phương Tây khiến Nga khó có thể tự nguyện chấp nhận một tình trạng tương tự với Trung Quốc.
Kịch bản thứ ba là sự phân rã của nước Nga – một quá trình sẽ nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát. Khi đó sẽ nổ ra các cuộc tranh chấp xoay quanh kho vũ khí hạt nhân, tài nguyên, biên giới và lịch sử. Kịch bản này hủy hoại tính thống nhất vốn là điều kiện để cơ chế răn đe hạt nhân vận hành. Cái giá phải trả trong các cuộc xung đột hậu Xô viết – bao gồm cả thảm kịch Ukraine – khiến một kết cục như vậy, theo quan điểm của tôi, là điều không thể chấp nhận được.
Khả năng cuối cùng là nước Nga trở thành một pháo đài: khép kín, được huy động thường trực và sống trong trạng thái bị bao vây vĩnh viễn. Công nghệ, khoa học, nguồn vốn và lòng tin xã hội không thể phát triển trong một trạng thái khẩn cấp kéo dài. Một trật tự như vậy không chấm dứt chiến tranh, nó chỉ biến xung đột từ một sự kiện thành một phương thức tổ chức nhà nước.
Các hình thức có thể khác nhau. Kết cục mang tính hệ thống vẫn là một.
Vì sao chiến lược tiêu hao không phải là chiến lược
Các cuộc đàm phán chỉ có hiệu quả khi cả hai bên đều tin rằng đối phương có khả năng và ý chí bảo vệ lập trường của mình đến cùng. Khi một bên kết luận rằng bên kia chỉ đang hù dọa hoặc đơn giản là không đủ khả năng thực hiện lời đe dọa, họ sẽ ngừng tìm kiếm giải pháp trên bàn đàm phán. Đây không phải là sự biện minh cho bất kỳ hình thức sử dụng vũ lực nào. Nó chỉ là mô tả về cách thất bại ngoại giao thực sự xảy ra: không chỉ bởi ác ý, mà còn bởi sự sụp đổ niềm tin ở cả hai phía. Hiểu được cơ chế này không đồng nghĩa với việc tán thành những hệ quả của nó.
Theo cách nhìn của Nga, cuộc chiến ở Ukraine là một cuộc chiến chống lại toàn bộ phương Tây, được tiến hành bằng tiền bạc, vũ khí và công nghệ phương Tây. Nhận thức đó định hình mọi quyết định mà Moscow đưa ra.
Nguồn gốc của xung đột một phần nằm ở sự mất cân bằng mang tính cấu trúc kéo dài ở châu Âu sau Chiến tranh Lạnh: những quan ngại an ninh của Moscow được lắng nghe nhưng chưa bao giờ được giải quyết một cách nghiêm túc. Sau biến động chính trị ở Ukraine năm 2014, Nga kết luận rằng ngoại giao đã đi đến giới hạn của nó, và sau đó hành động – trước tiên tại Crimea, rồi tám năm sau tại bốn khu vực miền đông và miền nam Ukraine.
Mục tiêu ban đầu của Moscow không đạt được nhanh chóng. Khi chiến tranh kéo dài, Nga điều chỉnh những gì họ xem là một kết quả có thể chấp nhận được. Các điều kiện được công khai hiện nay thu hẹp còn ba điểm: công nhận các vùng lãnh thổ mà Nga hiện tuyên bố theo hiến pháp của mình; bảo vệ pháp lý cho cộng đồng nói tiếng Nga; và một cam kết chính thức về tính trung lập của Ukraine.
Trong khi đó, phương Tây tái định nghĩa mục tiêu của mình. Cuộc tranh luận về cấu trúc an ninh tương lai của châu Âu – vốn chưa bao giờ thực sự diễn ra – đã được thay thế bằng một mục tiêu tác chiến: tiêu hao. Ý nghĩa cụ thể khác nhau: một số nói tới việc làm suy giảm năng lực quân sự Nga, số khác nhấn mạnh việc ngăn chặn chủ nghĩa xét lại, cũng có thể coi đây là tín hiệu gửi tới các bên có ý định gây hấn ở những khu vực khác. Trên thực tế, cuộc chiến đã trở thành một công cụ gây sức ép kéo dài đối với Moscow.
Khẩu hiệu “ủng hộ Ukraine chừng nào còn cần thiết” thuận cho việc trì hoãn một câu hỏi khó: cuối cùng thì trật tự an ninh nào nên tồn tại ở châu Âu, và Nga sẽ có vị trí gì trong đó? Về địa lý, chiến sự diễn ra trên lãnh thổ Ukraine; về mặt hình thức, người Ukraine là những người chiến đấu. Điều này phù hợp với phương Tây: những chi phí nhân mạng và kinh tế nặng nề nhất đổ lên Ukraine và Nga, trong khi tác động tới các nền kinh tế phương Tây, dù có thật, vẫn được đánh giá là có thể chịu đựng được. Nhưng cách sắp đặt này có một điểm yếu chiến lược hiếm khi được thảo luận.
Moscow rút ra một kết luận đơn giản: trong điều kiện hiện tại, mục tiêu ban đầu của Nga – một trật tự an ninh châu Âu mới trong đó Nga là một thành viên tham gia chứ không phải một đối tượng bị quản lý – là điều nằm ngoài tầm với. Có thể thắng hay thua các trận chiến; nhưng một cuộc chiến tiêu hao tự nó không thể giải quyết vấn đề. Nó chỉ kéo dài vấn đề.
Cấu trúc hiện nay không thể kéo dài mãi mãi. Một liên minh có ưu thế kinh tế và công nghệ, duy trì quân đội của đối thủ trong khi hạn chế sự tham gia trực tiếp của chính mình, cuối cùng sẽ dẫn tới điều gì đó khác: hoặc một hình thức đối đầu trực tiếp hơn, hoặc một thỏa thuận chính trị. Câu hỏi không phải là liệu sự chuyển đổi đó có xảy ra hay không, mà là khi nào và theo những điều kiện nào.
Vũ khí hạt nhân khiến câu hỏi này mang tính sinh tử. Răn đe hoạt động không phải vì vũ khí tồn tại, mà vì tồn tại các trung tâm ra quyết định hợp lý, các kênh liên lạc mở và cả hai bên đều hiểu giới hạn nằm ở đâu. Khi lòng tin sụp đổ và cảm xúc thay thế tính toán, vũ khí hạt nhân không còn là công cụ răn đe cuối cùng mà trở thành bức xạ nền của một rủi ro thường trực. Bất kỳ chiến lược nào coi leo thang hạt nhân là sự mở rộng có thể kiểm soát của áp lực thông thường đều dựa trên một giả định sai lầm: rằng một hệ thống phức tạp có thể bị đẩy tới mép vực rồi dừng lại chính xác tại điểm thuận tiện về chính trị. Các hệ thống thực tế không vận hành như vậy.
Sự tồn tại của chủ quyền, cũng như sự thừa nhận lẫn nhau rằng đối thoại và thỏa thuận là cần thiết, không đồng nghĩa với việc thỏa thuận chắc chắn sẽ đạt được. Điều quan trọng không kém là chủ quyền được vận dụng theo hướng nào. Nó sẽ góp phần duy trì một khuôn khổ chung hay phá vỡ khuôn khổ đó trước hết được quyết định bởi nền chính trị nội bộ của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, câu hỏi về quỹ đạo phát triển bên trong của nước Nga không thể được giải quyết từ bên ngoài.
Việc Nga tiến hành tiến trình chính trị của riêng mình như thế nào, và hướng chủ quyền của mình đến những mục tiêu gì, là câu hỏi chỉ có thể được giải quyết bên trong nước Nga, không phụ thuộc vào những ưu tiên từ bên ngoài. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm tác động đến tiến trình này từ bên ngoài không những sẽ thất bại mà còn phản tác dụng: nó phá hủy chính điều kiện tiên quyết – chủ quyền – mà nếu thiếu nó thì hòa bình bền vững là điều không thể. Thực tế này cần được chấp nhận, không phải vì thiện cảm với Nga, mà vì không tồn tại phương án thay thế nào khác.
Tôi có cơ sở để tin rằng sự thức tỉnh này cuối cùng sẽ đến, và những cơ sở đó chỉ có thể được hiểu nếu giải thích vì sao nó chưa xuất hiện sớm hơn.
Những người xây dựng nước Nga mới – doanh nhân, nhà khoa học, nghệ sĩ, vận động viên, các chuyên gia đã tạo nên nền kinh tế, ý nghĩa và danh tiếng của đất nước trên thế giới – phần lớn tự xem mình là những người theo chủ nghĩa quốc tế. Điều đó không phải sự yếu đuối hay ngây thơ. Đó là lựa chọn tự nhiên trong một thế giới mà hội nhập toàn cầu dường như không thể đảo ngược. Khoa học vận hành theo các tiêu chuẩn quốc tế; công nghệ đến từ những nguồn tốt nhất; quyền lợi và nghĩa vụ được điều chỉnh bởi luật pháp và tòa án phương Tây; con cái học tại những trường đại học hàng đầu thế giới; vốn được đầu tư vào nơi được bảo vệ tốt nhất. Sự lựa chọn này đồng nghĩa, dù có ý thức hay không, với việc chuyển giao một phần đáng kể chủ quyền cho các hệ thống bên ngoài. Không phải vì đó là mong muốn của họ, mà vì có vẻ như các quy tắc là trung lập và quyền tiếp cận được dành cho tất cả mọi người.
Trong nhiều năm, giới chức Nga đã cảnh báo rằng đó là một sai lầm. Những người ủng hộ hội nhập toàn cầu coi điều đó là tàn dư của tư duy Xô Viết. Thời gian đã chứng minh họ sai, không phải vì toàn cầu hóa không tồn tại, mà vì nó chưa bao giờ là trung lập.
Các lệnh trừng phạt cho thấy điều này một cách rõ ràng. Chúng được viết ra bởi một số người, phục vụ lợi ích của một số người, và có thể được thay đổi vì những người khác bằng quyết định chính trị. Kinh nghiệm của chính tôi với các lệnh trừng phạt phương Tây có ý nghĩa ở đây không phải như một sự bất bình cá nhân, mà như bằng chứng rằng cơ sở hạ tầng của toàn cầu hóa mang tính điều kiện về chính trị. Tài sản có thể bị phong tỏa; những quyền từng được coi là bất khả xâm phạm có thể tan biến ngay khi một quyết định chính trị được đưa ra.
Tác động mang tính hệ thống của các lệnh trừng phạt rộng lớn hơn mục đích ban đầu của chúng. Việc bị tách khỏi các hệ thống toàn cầu – tài chính, công nghệ, pháp lý, giáo dục – đã đặt tầng lớp sáng tạo của Nga trước một lựa chọn mà họ không ngờ tới: hoặc di cư hoàn toàn và cắt đứt mọi liên hệ, hoặc quay lại với câu hỏi mà họ đã né tránh suốt ba thập kỷ: làm thế nào để xây dựng thế giới của chính mình bên trong nước Nga, bằng các quy tắc của chính mình, theo các tiêu chuẩn của chính mình.
Quá trình này không nhanh chóng cũng không dễ dàng. Nhưng nó là điều không thể tránh khỏi, bởi thế giới toàn cầu theo nghĩa trước đây không còn tồn tại nữa. Những người biết cách sáng tạo nhận ra rằng họ không còn lựa chọn giữa nước Nga và một không gian toàn cầu, mà giữa nước Nga và một thế giới phân mảnh, nơi mỗi khối xây dựng các quy tắc của riêng mình. Trong những điều kiện đó, logic của sáng tạo hướng vào bên trong: xây dựng một điều gì đó đủ hấp dẫn đối với những người đã rời đi từ thời Liên Xô tan rã, những người mới rời đi gần đây, và toàn bộ cộng đồng nói tiếng Nga rộng lớn hơn.
Những sức ép nghiêm trọng – áp lực quân sự, trừng phạt kinh tế, chiến tranh thông tin – buộc phải đạt được hiệu quả. Và hiệu quả chỉ có thể xuất hiện khi mọi tầng lớp xã hội cùng hợp tác. Trong mỗi tầng lớp đều có đủ những con người biết suy nghĩ để nhận ra rằng lợi ích chung tối thiểu – bảo tồn chủ quyền – là điều trùng khớp. Mọi thứ khác có thể được họ tự giải quyết với nhau.
Chủ quyền không chỉ là vấn đề của nhà nước. Đó là câu hỏi quan trọng nhất đối với tất cả những ai sống và làm việc trong một đất nước: công dân, doanh nghiệp và các định chế.
Đối với công dân, sự vĩ đại của một quốc gia không được đo bằng khối lượng khẩu hiệu, mà bằng mức độ nó bảo vệ lợi ích của người dân mình. Người dân bỏ phiếu trái tím, khối óc và cả đôi chân để lựa chọn cuộc sống của họ. Nếu một đất nước thiếu chủ quyền, sớm hay muộn nó sẽ đánh mất những công dân có năng lực, có khả năng trở thành nguồn lực thay vì gánh nặng cho quốc gia.
Các doanh nghiệp hoạt động quốc tế cũng cần chủ quyền không kém. Người ta có thể xây dựng những cấu trúc sở hữu phức tạp và soạn thảo hợp đồng trong những hệ thống pháp lý tinh vi nhất. Nhưng cuối cùng, sự đảm bảo tốt nhất cho hợp đồng và đầu tư vẫn đến từ một nhà nước hùng mạnh. Những công ty không phải của Mỹ hay Trung Quốc phải đối mặt với những lựa chọn khó chấp nhận: cung cấp tài nguyên và thị trường cho các cường quốc để đổi lấy sự bảo hộ, hoặc chấp nhận vai trò người chơi địa phương luôn bị đe dọa bởi những quyết định từ bên ngoài. Phương án có chủ quyền – điều chỉnh chiến lược phù hợp với một nhà nước coi doanh nghiệp lớn là một phần năng lực chiến lược của mình – là lựa chọn duy nhất không đòi hỏi phải từ bỏ tương lai. Trong thế kỷ XXI, chủ quyền của nhà nước có một chiều kích kinh tế trực tiếp: khả năng tạo ra giá trị gia tăng trong phạm vi quyền tài phán của mình và hướng giá trị đó tới việc củng cố chủ quyền của chính mình thay vì của người khác.

Cộng đồng doanh nghiệp Nga gồm những con người không chỉ có khả năng tồn tại trong các quy tắc hiện có, mà còn có thể thay đổi chính môi trường đó: thiết kế và xây dựng các thị trường mới, các ngành công nghiệp mới và các hệ thống quản trị mới. Trong nhiều thập kỷ qua, quá trình sàng lọc của họ không diễn ra theo đường lối ý thức hệ mà thông qua cạnh tranh, khủng hoảng và tái cấu trúc – một quá trình tuyển chọn những người biết tính toán hậu quả, biết lắng nghe lợi ích của người khác và tìm ra những thỏa hiệp khả thi. Vai trò của họ trong cuộc thảo luận về hướng đi của chủ quyền Nga không mang tính chính trị mà mang tính sáng tạo; không phải câu hỏi ai sẽ cai trị, mà là câu hỏi đang xây dựng điều gì.
Các doanh nghiệp lớn của Nga đầu tư vào một nước Nga có chủ quyền rồi theo thời gian sẽ trở thành một phần không thể tách rời của nó. Điều tương tự cũng sẽ đúng với các định chế quan trọng khác. Hệ quả là bản thân nước Nga cũng sẽ trở nên khác đi. Nếu chúng ta hướng tới một chủ quyền tạo ra sự thống nhất giữa công dân và các định chế, tôi hy vọng rằng theo thời gian chúng ta sẽ sửa chữa được mọi mất cân bằng nội bộ mà chính chúng ta cũng phải chịu trách nhiệm – bởi đã từng vui vẻ đứng ngoài chúng.
Sức hấp dẫn của tính dễ đoán
Một nước Nga có chủ quyền sẽ không khiến mọi quốc gia cảm thấy thoải mái. Nhưng về lâu dài, nó có lợi hơn các phương án thay thế. Sự lựa chọn đối với các tác nhân bên ngoài không phải giữa một nước Nga thân thiện và một nước Nga thù địch. Mà là giữa một nước Nga có hành vi có thể dự đoán được và một nước Nga có quỹ đạo phát triển không thể biết trước. Trong thế giới đang hình thành hiện nay, tính dễ dự đoán quan trọng hơn sự đồng cảm.
Cuộc thảo luận nội bộ để định hướng nước Nga trong tương lai là điều hiển nhiên. Nhưng hội nghị đó phải diễn ra sau chiến tranh và bên trong đất nước.
Lựa chọn trước mắt thế giới không phải giữa yêu hay ghét nước Nga, giữa trừng phạt hay tha thứ, giữa sự rõ ràng về đạo đức hay chủ nghĩa thực dụng chính trị. Đó là lựa chọn giữa hai loại tương lai: một tương lai trong đó các cường quốc một lần nữa học cách tôn trọng chủ quyền của nhau, và một tương lai trong đó mỗi bên đều cố gắng biến bên kia thành đối tượng bị quản lý. Con đường thứ hai đã đưa chúng ta tới tình thế hiện nay.
Điều quan trọng nhất là chúng ta lùi lại khỏi vực thẳm. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể đặt câu hỏi làm thế nào mình đã đến đây và phải sắp xếp thế giới khác đi ra sao. Công việc đó thuộc về thế hệ tiếp theo. Vai trò của chúng ta là bảo đảm rằng họ vẫn còn điều gì đó để tiếp tục xây dựng.
■ Tác giả Andrey Melnichenko là một nhà công nghiệp lớn của Nga hiện đang chịu các lệnh trừng phạt của phương Tây.











